|
Sản
phẩm chè Mộc Châu do Công ty Chè Mộc Châu sản xuất
Được bảo hộ về nhãn mác, xuất
xứ và được chứng nhận tiêu chuẩn quản lý chất lượng.
Sản phẩm chè Mộc Châu được Vinatea phân phối ra thị trường
qua bốn đơn vị như sau:
-
Phòng Kinh doanh Xuất nhập
khẩu 2 trực thuộc Vinatea.
- Công ty Thương Mại & Du Lịch Hồng Trà.
- Công ty Thương Mại Hương Trà.
- Công ty Thương Mại Lam Sơn.
Vinatea không chịu
trách nhiệm về chất lượng các sản phẩm Chè Mộc Châu
được cung cấp bởi các Doanh nghiệp khác ngoài Vinatea
Giới thiệu chung về các
loại chè tại Việt nam và sản phẩm của Tổng công ty chè Việt
Nam. Giới thiệu chung về các loại chè tại Việt Nam
Là một quốc gia có truyền thống uống chè lâu đời, Việt Nam sản xuất và
tiêu thụ rất nhiều chủng loại chè, từ các loại chè truyền thống cho đến các loại
chè được du nhập từ nước ngoài.
Các loại chè được uống trong dân gian Việt Nam -
Chè
tươi: nguyên liệu gồm lá chè non và già, to nhỏ, xanh tươi,
không qua chế biến, hái về rửa sạch vò nhầu lá bằng tay rồi cho vào nồi hoặc ấm
đun nước loại to cho thêm vài lát gừng tươi đun cho đến sôi, chắt ra bát,
chén uống ngay hoặc cho vào ấm tích ủ nóng để uống dần trong ngày, màu nước xanh tươi màu lục diệp. Vùng chè Xuân Mai – Hà Đông
hái từng lá, gồm lá già bánh tẻ, dày ròn, nhỏ, vàng, mép lá ít răng cưa ; vùng
chè Gay - Nghệ An cắt cả cành dài 30-40 cm, gồm búp, lá to, nhỏ, xanh lụcdiệp,
mềm mép lá răng cưa sâu.
- Chè nụ: (nụ hoa chè): nụ còn non (nụ hạt
tiêu), hái trong tháng 10-11 dương lịch, hái về phơi trong bóng râm,
cho đến khô màu xanh, nếu phơi nắng thì chóng khô, nhưng nụ màu
đỏ, chất lượng kém. Cafein thấp: 2,00%, ít kích thích, được
phụ nữ và người già ưa dùng, Pha nước sôi lâu ngấm, nên chè
nụ đãi chủ mà không đãi khách. Có khi ướp thêm hoa cúc, có mùi
thơm dễ chịu. Sản xuất nhiều ở các tỉnh Nghệ An, Hà Sơn Bình Việt Nam.
- Chè Bạng: gồm lá chè già là chủ yếu,
giã nát, hay làm băm nhỏ thành mẩu dài như nhau, 2 mm-1cm, màu xanh
đen và hơi đỏ. Lá chè không chế biến, hình như chỉ sấy đơn
giản bằng phơi hong, không có lông tuyết. Chè Bạng có tỷ
lệ lớn nhất về chất béo: 7.14%, Tanin: 5.25%, tro tổng số: 4.30%,
tro hoà tan: 1.40%, Cafein 2.00%, chất hoà tan: 19,10%, đạm: 1,25%, chất
béo 7,14%. Chè Bạng được chế biến từ xa xưa
tại làng Vân Tra, giáp Bạng thượng – Thanh Hoá. Trà Huế sản
xuất tại Truồi - Thừa thiên cũng chế biến từ lá già, cuỗng
chè, cành chè non, băm giã, chế biến đơn giản, ủ rồi phơi nắng.
-
Chè mạn
Hà Giang ( chè bánh, chè chi ): chè truyền thống vùng chè cổ
miền núi phía Bắc Việt nam, nguyên liệu non, một tôm 2,3 lá non,,
giống chè Tuyết (Shan), cuống dài, chế biến đơn giản, thủ công.
Búp chè hái về, sao nhanh trong chảo gang, rồi vò bằng tay xong, tãi
ra phơi nắng đến khô; chè bán thành phẩm nhồi vào ống bương
to đặt trên gác bếp để bảo quản gọi là Chè Lam. Mặt chè thô, búp
có tuyết trắng, chất lượng rất tốt. Mẫu chè Tuyết Lu
(Bắc Hà – Lào Cai) có tanin: 10,10%, Cafein 3,00%, chất hoà tan 33,00%. Mẫu chè
Tuyết Hà giang số 95 có tanin 10,54%, Cafein 3,10%, chất hoà tan 34,30%. Nước
chè màu đỏ, vị dịu, mát , thuần hoà không chát mạnh như chè xanh, chè lục. Chè
rời cánh thô, ít xoăn, lồng cồng. Chè chi là
chè mạn ép thành bánh tròn, gói bẹ diễn, đóng thành cối gồm
10-12 bánh. Chế → biến theo quy trình: chè nguyên liệu hấp nóng
→ ép bánh → làm khô → đóng cối. Chè ruột gồm chè già, chè
vụn; chè mặt gồm chè non, búp nhỏ, mịn. Khi uống, từng miếng
chè. Pha chè nước màu đỏ, vị chát dịu, mát được mọi người ưa chuộng.
-
Chè
ô long: Trước đây được sản xuất chủ yếu ở Trung Quốc (Phúc Kiến Quảng Đông) và Đài
Loan; còn gọi là thanh trà. Công nghệ: chè nguyên liệu → làm héo và lên men
kết hợp→ sao và vò kết hợp sấy khô→ bán thành phẩm. Nước chè màu vàng kim óng
ánh, vị đậm mạnh, hương thơm đặc biệt. Các danh trà Ô long như Thiết quan âm,
Thuỷ tiên, Đại hồng bào, Kỳ chủng, Sắc chủng, bao chủng… là chè Ô long dùng
nguyên liệu của từng giống chè đã chọn lọc để chế biến.
2. Từ khi người Pháp chiếm đóng Đông Dương làm thuộc địa, ở Việt Nam đã
xuất hiện thêm hai loại chè đen, chè xanh mới, với khối lượng lớn
chuyên sản xuất và xuất khẩu sang Tây Âu và Bắc Phi ( lúc này tại Việt Nam có 13505 ha
chè, sản xuất được 6000 tấn khô vào năm
1941). Nhưng người Vệt Nam không uống chè đen, mà chỉ uống chè
xanh là chủ yếu, như chè Chính thái, hoặc đấu trộn thêm chè Đồng Lương
sản xuất ở Phú Thọ cũ. - Chè đen:
chiếm
phần trăm lớn nhất trên thị trường buôn bán chè thế giới,
theo quy trình công nghệ OTD: chè nguyên liệu tươi→ làm héo→ vò →lên men
→sấy khô→ sàng phân loại. Nước chè đen có màu nâu đỏ tươi,
vị dịu, hương thơm nhẹ.
Sau khi sàng sẩy, phân loại
(trong quá trình tinh chế) chia ra nhiều loại như: OP, P, BOP, BP , FBOP, PS , F, D chất lượng từ cao đến thấp
theo kích thước của cánh chè. -
Chè xanh (xưa gọi
là chè lục): Sản
xuát nhiều ở Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Việt Nam theo quy trình: chè nguyên liệu tươi → diệt men → làm
nguội → vò →sấy
khô→ sàng phân loại thành phẩm. Nước xanh vàng, tươi sáng, vị chát mạnh,
có hậu, hương thơm nồng mùi cốm. Diệt men bằng sao chảo gang hoặc máy diệt men
có nhiệt độ 230 đến 250oC (chè sao),
hấp hơi nước nóng hay hơi nước nóng (chè hấp), hay nhúng nhanh
vào nước sôi (chè chần). Sấy khô bằng hơi nóng, sao chảo (sao
suốt), sấy than hoa , sấy lửa củi (chè lửa), hay phơi nắng kết
hợp sấy than (chè nắng), chất lượng rất khác
Trong thời
kỳ chiến tranh thống nhất đất nước, với sự giúp đỡ của
Liên Xô, Trung Quốc chè đen và chè xanh tăng nhanh về sản lượng,
chủ yếu để xuất khẩu, nhất là chè đen OTD, Thị trường
trong nước có thêm các loại chè gói ướp hương (Thanh Tâm, Thanh
hương, Liên Hoa, Hồng Đào, Ba Đình, Đồng Tâm…), chè ướp hoa,
chè tiết kiệm (chè lá già, cẫng hương…), ngoài các chủng loại
truyền thống của thời kỳ trước. -
Chè
hương: dùng các hương liệu khô, như hoa ngâu khô, hoa cúc khô, hạt mùi, tiểu
hồi, đại hồi, cam thảo, quế… pha trộn với các tỷ lệ khác nhau. Công nghệ:
chuẩn bị hương liệu→ sao chè → cho hương liệu và sao → ướp hương trong thùng.
- Chè hoa tươi: được sản xuất
nhiều ở Trung Quốc, Việt nam; hoa tươi gồm có: sen, nhài, ngọc
lan,sói, ngâu, bưởi quế, ngọc lan… Mỗi nhà sản xuất có bí
quyết công nghẹ gia truyền riêng. Công nghệ chung như sau: chuẩn
bị chè và hoa tươi→ ướp hương (trộn chè và hoa)→ thông hoa→
sàng hoa→ sấy khô→ để nguội→ để hoa → sàng hoa→ chè hoa
tươi thành phẩm.
Sau 1975, diện tích và sản
lượng chè đen, chè xanh trong mười năm đầu, tiếp tục tăng không
ngừng (50.800 ha, 28200 tấn khô-1985). Các loại chè truyền
thống dân tộc (chè tươi, nụ, lá gìa…) chè búp, chè hương gói giấy lại tăng
nhanh.. Thời kỳ đổi mới và mở cửa (1986-1996), thị trường
tiêu thụ chè trong nước trở nên sôi động, biến đổi nhanh chóng
về chủng loại, mẫu mã, bao bì, phân phối… Đã xuất hiện các
mặt hàng chè mới, như chè túi (tea bag), chè đen CTC, chè đặc sản,
chè hoa (nhài, sói, ngâu, sen…).
- Chè đen mảnh: Búp chè tươi sau khi héo được đưa
vào thiết bị vò và nghiền sau đó đưa ra máy cắt → lên men → sấy , gọi là chè đen CTC, sản xuất nhiều ở Xrilanca, Ấn
Độ, Châu Phi.
-
Chè hoà tan: sản xuất tại
các nước công nghệ phát triển; công nghệ: chè nguyên liệu đã chế biến → chiết
suất→ cô đặc → sấy phun sương; nguyên liệu chè xanh hoặc đen vụn già, thứ
phẩm. Chè hoà tan có dạng bột tơi xốp, rất mịn, gồm những hạt nhỏ, màu vàng
nhạt (chè xanh), nâu nhạt (chè đen). Hàm lượng tanin, catesin, axit amin,
cafeine rất cao, gấp chè nguyên liệu. màu
nước, vị chè đạt yêu cầu, nhưng hương nhạt, vì bay hết trong
quá trình chiết xuất, cô đặc và sấy. -
Chè
túi (tea bag): Tỷ lệ chè mảnh, chè vụn có nhiều trong công
nghệ chè CTC và OTD; để tiết kiệm và thu hồi chè tốt, đã có
công nghệ làm túi giấy đặc biệt để đựng các loại chè đó.
Túi chè có sợi dây buộc nhãn hiệu của hãng sản xuất, khi pha
chỉ cần nhúng túi vào cốc hoặc chén nước sôi, túi bã chè vớt
lên dễ dàng, không cần ấm pha trà mà lại sạch như trà Kim Anh..
- Chè dược thảo: gồm chè đen trộn với
một dược liệu như cỏ ngọt, vừa có vị chè lại có giá trị
chữa bệnh.
Giới thiệu
chung về các loại sản phẩm của Tổng công ty chè Việt Nam
-
Chè xanh:
Gồm có các loại chè xanh hương tự nhiên và các loại
chè ướp hương các loại hoa như Nhài, Sen, ...Các loại
chè túi lọc.
-
Chè Oolong:
Với các loại giống chè đặc sản được nhập từ Trung
Quốc và Đài loan đã qua khảo nghiệm được trồng đại
trà tại Mộc Châu, cao nguyên Lâm Đồng,... cùng với các
dây chuyền công nghệ sản xuất chè Oolong, sản phẩm
chè Oolong của Tổng công ty chè Việt Nam đã có chất
lượng đạt tiêu chuẩn như chè Oolong của Trung Quốc
và đài loan với các đặc trưng điển hình của loại
chè này.
-
Chè đen:
Với các thiết bị dây truyền hiện đại, Tổng công
ty chè Việt Nam đã sản xuất đầy đủ các chủng loại
chè này (Orthordox, CTC) đạt chất khá trở lên và đã
xuất khẩu sang rất nhiều thị trường trên thế giới.
TỔNG
CÔNG TY CHÈ VIỆT NAM
Vinatea
92 Võ Thị Sáu. Hà Nội - Việt Nam E-mail:
info@vinatea.com.vn Tel: (84-4) 6226990.
Fax: (84-4) 6226991

|